CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ

Tỉnh Quảng Ngãi

A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Triển khai thực hiện Chiến lược quốc gia về chuyển đổi số giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2045 trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 298/KH-UBND triển khai thực hiện Chiến lược quốc gia về chuyển đổi số giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2045 trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.

                 Mục tiêu chung nhằm tổ chức quán triệt, cụ thể hóa và triển khai đầy đủ, đồng bộ, hiệu quả các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của Chiến lược, gắn việc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị và các chương trình, kế hoạch có liên quan của Trung ương, của tỉnh. Thực hiện chuyển đổi số toàn diện, đồng bộ, sâu rộng, bao trùm; lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, là chủ thể và đối tượng thụ hưởng. Phát triển chính quyền số hiện đại, quản trị dựa trên dữ liệu và trí tuệ nhân tạo; thúc đẩy kinh tế số, xã hội số, công nghiệp công nghệ số; nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh và chất lượng cuộc sống của Nhân dân. Phát triển đồng bộ thể chế số, hạ tầng số, dữ liệu số, nền tảng số, nhân lực số và doanh nghiệp công nghệ số; bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân, bí mật nhà nước và chủ quyền số quốc gia; huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực để hoàn thành các mục tiêu đến năm 2030 và tạo nền tảng thực hiện tầm nhìn đến năm 2045.

Mục tiêu cụ thể đến năm 2030

Về phát triển chính phủ số, nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động: 100% hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính được số hóa.  99% người dân, doanh nghiệp đánh giá hài lòng khi sử dụng dịch vụ công trực tuyến. 100% sở, ban ngành, địa phương sử dụng thống nhất, hiệu quả các nền tảng số dùng chung quốc gia phục vụ chỉ đạo, điều hành và cung cấp dịch vụ công. 100% hệ thống thông tin được kết nối, chia sẻ dữ liệu qua dịch vụ chia sẻ dữ liệu. 100% cơ sở dữ liệu dùng chung ngành, lĩnh vực cấp tỉnh được chuẩn hóa, kết nối, phân quyền và sẵn sàng khai thác cho AI. Đảm bảo Trung tâm điều hành thông minh được tích hợp AI phục vụ phân tích, dự báo, cảnh báo, giám sát và hỗ trợ ra quyết định. 100% cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan nhà nước có hồ sơ điện tử theo quy định. 70% số chỉ tiêu thống kê thuộc các hệ thống chỉ tiêu thống kê được biên soạn từ nguồn dữ liệu hành chính. 100% cán bộ lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan nhà nước được đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng số. 100% cán bộ chuyên trách về chuyển đổi số, công nghệ thông tin được đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật công nghệ số.  100% cán bộ, công chức, viên chức có tài khoản và được đào tạo sử dụng nền tảng trợ lý AI công vụ.

Về phát triển kinh tế số, nâng cao năng lực cạnh tranh: Quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 30% GRDP. Phấn đấu Hỗ trợ tối thiểu 5.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số. Phấn đấu Tỷ trọng doanh thu thương mại điện tử so với tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt từ 15 - 17%. Phấn đấu đạt 45% số doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực thương mại tham gia các sàn thương mại điện tử lớn trong và ngoài nước. Phấn đấu giá trị thanh toán không dùng tiền mặt gấp 30 lần GRDP. Phấn đấu trên 40% doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận, sử dụng nền tảng “mô hình như một dịch vụ”, tác nhân AI hoặc giải pháp AI dùng chung.

Về phát triển xã hội số, thu hẹp khoảng cách số, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân: Hạ tầng mạng băng rộng cáp quang phủ 100% hộ gia đình. Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên có tài khoản giao dịch tại ngân hàng hoặc tổ chức được phép khác đạt tối thiểu 95%. Phấn đấu tỷ lệ dân số từ 18 tuổi trở lên có chữ ký số hoặc chữ ký điện tử cá nhân đạt trên 70%.  Phấn đấu tỷ lệ người dân được lập sổ sức khỏe điện tử đạt 100%.  Phấn đấu đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng số cơ bản cho tối thiểu 1.500.000 lượt người trong độ tuổi lao động.

Mục tiêu đến năm 2045 phấn đấu quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 50% GRDP, kinh tế số trở thành một trong những động lực phát triển chủ yếu của nền kinh tế.

Nhiệm vụ và giải pháp

Hoàn thiện thể chế số. Hoàn thiện đồng bộ thể chế số, bảo đảm thể chế đi trước, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho đổi mới sáng tạo, phát triển công nghệ số, dữ liệu số và AI; đưa chuyển đổi số trở thành động lực đột phá quan trọng hàng đầu để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và chất lượng cuộc sống của Nhân dân.  Rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các chương trình, kế hoạch để đáp ứng yêu cầu về dữ liệu, giao dịch điện tử, định danh và xác thực điện tử, chữ ký số, thanh toán số, dịch vụ công trực tuyến, nền tảng số, AI, tài sản số, kinh tế dữ liệu, thương mại điện tử, bảo vệ dữ liệu cá nhân, an toàn thông tin mạng và các mô hình quản lý, sản xuất, kinh doanh mới trên môi trường số. Thể chế số phải đáp ứng đồng thời yêu cầu phát triển chính quyền số, kinh tế số, xã hội số và công nghiệp công nghệ số; chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, tạo môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ số.  Hoàn thiện cơ chế, chính sách để cung cấp 100% dịch vụ công trực tuyến toàn trình đối với thủ tục hành chính đủ điều kiện; tăng dần tỷ lệ người dân, doanh nghiệp sử dụng dịch vụ công trực tuyến; tăng tỷ lệ hồ sơ được xử lý hoàn toàn trực tuyến; bảo đảm việc số hóa, tái sử dụng dữ liệu trong giải quyết thủ tục hành chính; đơn giản hóa thành phần hồ sơ trên cơ sở khai thác dữ liệu đã có trong các hệ thống của cơ quan nhà nước. Từng bước triển khai dịch vụ công trực tuyến chủ động, cá thể hóa và tự động trên cơ sở khai thác dữ liệu và ứng dụng AI. Khuyến khích các nền tảng số, siêu ứng dụng, ứng dụng ngân hàng và trung gian thanh toán đủ điều kiện tham gia tích hợp, cung cấp dịch vụ công trực tuyến, mở rộng kênh tiếp cận thuận tiện cho người dân, doanh nghiệp.

Hoàn thiện thể chế về quản trị dữ liệu, dữ liệu mở, dữ liệu dùng chung, cơ sở dữ liệu tổng hợp, kho tri thức số, thị trường dữ liệu, sàn dữ liệu, nền tảng số dùng chung. Tuân thủ các quy định về tạo lập, chuẩn hóa, kết nối, chia sẻ, tái sử dụng, định giá, thương mại hóa dữ liệu; cơ chế kết nối dữ liệu giữa khu vực công và khu vực tư; cơ chế khai thác dữ liệu hành chính phục vụ thống kê, điều hành, dự báo và hoạch định chính sách, từng bước giảm phụ thuộc vào điều tra thủ công. Xây dựng cơ chế khai thác dữ liệu phục vụ phát triển AI, bảo đảm quyền riêng tư, an toàn dữ liệu và chủ quyền dữ liệu quốc gia. Đổi mới cơ chế đầu tư, đặt hàng, giao nhiệm vụ, thuê dịch vụ công nghệ số, mua sắm công, hợp tác công tư và các cơ chế tạo lập thị trường nhằm phát huy vai trò Nhà nước là khách hàng lớn, người dẫn dắt thị trường và người sử dụng đầu tiên đối với sản phẩm, dịch vụ công nghệ số Việt Nam. Ưu tiên sản phẩm, nền tảng, dịch vụ “Make in Viet Nam”; tạo thị trường ban đầu cho các sản phẩm công nghệ số phục vụ các bài toán lớn của tỉnh. Nghiên cứu gắn kết quả đánh giá chuyển đổi số và mức độ hoàn thành các mục tiêu với việc ưu tiên bố trí, phân bổ nguồn lực cho các đơn vị, địa phương, bảo đảm phù hợp với pháp luật về ngân sách nhà nước, đầu tư công và các quy định có liên quan. Triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với công nghệ, sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh số mới; nghiên cứu triển khai thí điểm trong phạm vi, thời gian và điều kiện xác định để đánh giá tác động, hoàn thiện chính sách, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, thương mại hóa công nghệ và phát triển các ngành kinh tế mới.

Phát triển hạ tầng số. Phát triển hạ tầng số trở thành hạ tầng thiết yếu, hạ tầng chiến lược của tỉnh; là nền tảng cho dữ liệu số, AI, chính quyền số, kinh tế số, xã hội số và công nghiệp công nghệ số. Hạ tầng số phải được quy hoạch, đầu tư, quản lý đồng bộ, hiện đại, an toàn, bền vững, có khả năng mở rộng, kết nối liên thông và đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong giai đoạn mới.  Ưu tiên phát triển hạ tầng băng rộng cố định và di động tốc độ cao, hạ tầng 5G và các thế hệ mạng di động tiếp theo; hạ tầng Internet vạn vật, điện toán đám mây, điện toán biên, trung tâm dữ liệu, hạ tầng tính toán hiệu năng cao, hạ tầng phục vụ AI và các nền tảng kết nối số quy mô lớn. Phát triển đồng bộ hạ tầng viễn thông mặt đất và hạ tầng vệ tinh, bảo đảm kết nối số an toàn, liên tục trên phạm vi toàn quốc, nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Phát triển hạ tầng số dùng chung của khu vực công theo hướng thống nhất, hiện đại, linh hoạt, an toàn, bảo mật. Hoàn thiện hạ tầng định danh số, xác thực số, chữ ký số, thanh toán số, địa chỉ số, bản đồ số, hạ tầng tích hợp, chia sẻ và điều phối dữ liệu; hạ tầng giám sát, đo lường, cảnh báo và điều hành số phục vụ quản trị dựa trên dữ liệu theo thời gian thực. Huy động hiệu quả nguồn lực của Nhà nước, doanh nghiệp và toàn xã hội; thúc đẩy hợp tác công - tư trong phát triển hạ tầng số, nhất là trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây, cáp quang, hạ tầng viễn thông thế hệ mới, hạ tầng thanh toán số và hạ tầng chữ ký số; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư phát triển hạ tầng số hiện đại, đồng bộ, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững.

Phát triển dữ liệu số, nền tảng số dùng chung. Xác định dữ liệu là tài nguyên chiến lược, nền tảng vận hành của chính phủ số, chính quyền số, động lực của kinh tế số, nguồn lực phát triển xã hội số. Thiết lập phương thức quản trị dữ liệu thống nhất theo nguyên tắc dữ liệu đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung, được bảo vệ an toàn và khai thác hiệu quả. Tập trung xây dựng, phát triển, hoàn thiện, kết nối liên thông và chia sẻ, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, cơ sở dữ liệu dùng chung của tỉnh với các cơ sở dữ liệu quốc gia (việc xây dựng, phát triển cơ sở dữ liệu, phần mềm và nền tảng số chuyên ngành phải ưu tiên sử dụng các nền tảng số dùng chung quốc gia, nền tảng số dùng chung của bộ, ngành Trung ương và của tỉnh; bảo đảm kết nối, liên thông, kế thừa dữ liệu, tránh đầu tư trùng lặp, phân tán và lãng phí nguồn lực); hình thành cơ sở dữ liệu tổng hợp có tích hợp, sử dụng AI để phục vụ chỉ đạo, điều hành, cung cấp dịch vụ công, phát triển chính quyền số, kinh tế số và xã hội số. Ưu tiên các dữ liệu nền tảng về dân cư, đất đai, doanh nghiệp, tài chính, bảo hiểm, y tế, giáo dục, lao động, an sinh xã hội, cán bộ, công chức, viên chức, giao thông, tài nguyên và môi trường. Đẩy mạnh số hóa, chuẩn hóa, làm sạch và tái sử dụng dữ liệu trong giải quyết thủ tục hành chính. Bảo đảm dữ liệu, kết quả giải quyết thủ tục hành chính được chia sẻ, tái sử dụng theo quy định để đơn giản hóa hồ sơ, rút ngắn thời gian xử lý, nâng cao tỷ lệ hồ sơ trực tuyến toàn trình và nâng cao mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp khi sử dụng dịch vụ công trực tuyến.

 Thúc đẩy mở dữ liệu của cơ quan nhà nước bảo đảm chất lượng, khả năng khai thác, sử dụng và tái sử dụng. Ưu tiên các bộ dữ liệu có giá trị cao phục vụ đổi mới sáng tạo, nghiên cứu khoa học, phát triển doanh nghiệp, thương mại điện tử, dịch vụ số, thống kê, dự báo và giải quyết các vấn đề xã hội. Phát triển thị trường dữ liệu, sàn dữ liệu và dịch vụ dữ liệu theo lộ trình phù hợp; phấn đấu hình thành các sàn dữ liệu an toàn, tuân thủ pháp luật, tạo nền tảng cho kinh tế dữ liệu và kinh tế số phát triển. Bảo đảm mọi hoạt động phát triển dữ liệu và nền tảng số gắn với tự chủ công nghệ, bảo đảm chủ quyền dữ liệu, chủ quyền số, an ninh dữ liệu, an toàn thông tin mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân, quyền riêng tư, bí mật nhà nước, bí mật kinh doanh và quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp.

Phát triển nhân lực số. Phát triển nhân lực số là nhiệm vụ then chốt để chuyển đổi số thành công, cần có các cơ chế chính sách ưu tiên, ưu đãi, hỗ trợ phát triển nhân lực số toàn diện, gồm nhân lực công nghệ số, nhân lực quản trị chuyển đổi số, lực lượng lao động có kỹ năng số, phổ cập kiến thức, kỹ năng số cho người dân, hộ gia đình, doanh nghiệp có năng lực tham gia an toàn, hiệu quả vào môi trường số. Nâng cao năng lực số cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhất là người đứng đầu, cán bộ xây dựng chính sách, cán bộ chuyên trách chuyển đổi số, công nghệ thông tin và an toàn thông tin mạng, tổ công nghệ số cộng đồng, cán bộ hỗ trợ, hướng dẫn chuyển đổi số ở cơ sở. Ưu tiên phát triển năng lực lãnh đạo số, quản trị số và ra quyết định dựa trên dữ liệu; bảo đảm đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kỹ năng số thường xuyên cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo trong cơ quan nhà nước. Đổi mới giáo dục, đào tạo theo hướng phát triển tư duy số, AI, tư duy dữ liệu, năng lực sử dụng công nghệ, an toàn thông tin, sáng tạo và thích ứng với thay đổi công nghệ. Ưu tiên đào tạo nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ số chiến lược, dữ liệu, an toàn thông tin, điện toán đám mây, AI, nền tảng số và quản trị dữ liệu. Tăng cường đào tạo các ngành STEM, giáo dục nghề nghiệp số, đào tạo lại và đào tạo thường xuyên cho người lao động; thúc đẩy liên kết Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp, gắn đào tạo với nhu cầu thị trường và các chương trình, dự án chuyển đổi số.

Đẩy mạnh phổ cập kỹ năng số cơ bản, kỹ năng an toàn số, giao dịch số, thanh toán số, chữ ký số, định danh điện tử và sử dụng dịch vụ công trực tuyến. Triển khai phong trào “Bình dân học vụ số”; phát triển các nền tảng hỗ trợ học tập suốt đời, kết nối đào tạo, việc làm và dự báo nhu cầu nhân lực. Thu hẹp khoảng cách số, bảo đảm mọi người dân có cơ hội tiếp cận, sử dụng và thụ hưởng thành quả chuyển đổi số; ưu tiên hỗ trợ vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo và các nhóm yếu thế. Thu hút, sử dụng, đãi ngộ và trọng dụng nhân tài, chuyên gia công nghệ số; khuyến khích doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và chuyên gia tham gia các nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Phát triển doanh nghiệp công nghệ số. Phát triển doanh nghiệp công nghệ số trên địa bàn tỉnh trở thành lực lượng nòng cốt để tiếp thu, làm chủ, phát triển và ứng dụng công nghệ số, giải quyết các bài toán lớn của chuyển đổi số tỉnh, bảo đảm tự chủ và nâng cao năng lực cạnh tranh. Doanh nghiệp công nghệ số phải là lực lượng chủ lực trong phát triển chính quyền số, kinh tế số, xã hội số, công nghiệp công nghệ số và đưa công nghệ số vào mọi ngành, lĩnh vực, địa bàn. Ưu tiên hình thành hệ sinh thái doanh nghiệp công nghệ số “Make in Viet Nam” có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế, với nòng cốt là các doanh nghiệp phát triển nền tảng số, dữ liệu, AI, an toàn thông tin mạng, điện toán đám mây, bán dẫn, phần mềm, nội dung số và cung cấp giải pháp chuyển đổi số theo ngành, lĩnh vực. Phát huy vai trò của Nhà nước là thị trường lớn và khách hàng quan trọng của doanh nghiệp công nghệ số. Nhà nước tạo không gian thử nghiệm và thị trường ban đầu cho sản phẩm, dịch vụ công nghệ số trong nước thông qua đặt hàng, giao nhiệm vụ, mua sắm công, thuê dịch vụ công nghệ số, thử nghiệm có kiểm soát và ưu tiên ứng dụng trong các bài toán lớn của quốc gia, nhất là dịch vụ công trực tuyến, nền tảng số dùng chung, cơ sở dữ liệu dùng chung, an toàn thông tin mạng, y tế số, giáo dục số, thanh toán số và quản trị số. Hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ số nâng cao năng lực nghiên cứu, thiết kế, phát triển sản phẩm, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn chất lượng, an toàn, bảo mật, thương mại hóa và mở rộng thị trường. Khuyến khích liên kết giữa doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhỏ và vừa, viện nghiên cứu, trường đại học, trung tâm đổi mới sáng tạo, khu công nghệ cao và các ngành, địa phương để hình thành chuỗi giá trị công nghệ số, góp phần tăng tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa trong sản phẩm, dịch vụ số.

Thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số doanh nghiệp trong toàn nền kinh tế, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ kinh doanh và các ngành, lĩnh vực có lợi thế của tỉnh. Triển khai các chương trình hỗ trợ chuyển đổi số, thiết thực, dễ tiếp cận; hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng nền tảng số, dữ liệu, AI, thương mại điện tử, thanh toán số, hóa đơn điện tử, hợp đồng điện tử, chữ ký số và các giải pháp quản trị số trong sản xuất, kinh doanh. Phát triển thương mại điện tử, kinh tế nền tảng, kinh tế dữ liệu và các mô hình kinh doanh số mới; giúp doanh nghiệp đổi mới mô hình quản trị, mô hình kinh doanh, nâng cao năng suất, giảm chi phí, mở rộng thị trường, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị số, góp phần nâng cao tỷ trọng kinh tế số trong GRDP. Ưu tiên phát triển doanh nghiệp công nghệ số hoạt động trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược, công nghệ lõi, công nghệ tiên tiến như AI, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, an toàn thông tin mạng, bán dẫn, chuỗi khối, Internet vạn vật, robot, tự động hóa, thực tế mở rộng, công nghệ lượng tử và các công nghệ số mới nổi. Khuyến khích doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp công nghệ dẫn dắt đổi mới sáng tạo, hỗ trợ hệ sinh thái doanh nghiệp nhỏ và vừa trong chuyển đổi số.

Tăng cường hợp tác quốc tế. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về chuyển đổi số theo hướng chủ động, thực chất, có chọn lọc, gắn với lợi ích quốc gia - dân tộc, yêu cầu bảo đảm chủ quyền số. Hợp tác quốc tế phải phục vụ trực tiếp mục tiêu phát triển chính quyền số, kinh tế số, xã hội số; nâng cao thứ hạng của Quảng Ngãi về chính quyền điện tử, chính quyền số, góp phần phát triển chính phủ số, kinh tế số, xã hội số. Chủ động tham gia xây dựng, định hình và thực thi các nguyên tắc, tiêu chuẩn, quy chuẩn, khuôn khổ hợp tác quốc tế về quản trị dữ liệu, AI, an toàn thông tin mạng, định danh số, chữ ký số, thanh toán số, thương mại số, dịch vụ số, bảo vệ dữ liệu cá nhân, quản trị nền tảng số và kinh tế số. Mở rộng hợp tác với các quốc gia, tổ chức quốc tế, tập đoàn công nghệ, viện nghiên cứu, trường đại học hàng đầu trên thế giới để tiếp nhận tri thức, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực chất lượng cao, phát triển hạ tầng chuyển đổi số, trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây, hạ tầng tính toán hiệu năng cao. Ưu tiên hợp tác trong các lĩnh vực công nghệ số chiến lược, công nghệ lõi và công nghệ mới nổi; đồng thời bảo đảm nguyên tắc không phụ thuộc công nghệ, không lệ thuộc nền tảng, kiểm soát được các rủi ro về dữ liệu, an ninh mạng, chuỗi cung ứng, tiêu chuẩn kỹ thuật và chủ quyền số. Hợp tác quốc tế phải đi đôi với nâng cao năng lực nghiên cứu, phát triển, hấp thụ, làm chủ và sáng tạo công nghệ.

 

 


Tác giả: Lthuy

Tin nổi bật