Phát triển văn hóa Việt Nam và tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030 trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 378/KH-UBND về phát triển văn hóa Việt Nam và tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030 trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
Mục đích nhằm cụ thể hóa và tổ chức thực hiện hiệu quả các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp nhằm xác lập văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột và là hệ điều tiết cho sự phát triển nhanh, bền vững được quy định tại Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam và các văn bản liên quan trên địa bàn tỉnh. Tạo đợt sinh hoạt văn hóa - chính trị sâu rộng trong toàn xã hội; khẳng định vai trò trung tâm của Nhân dân với tư cách là chủ thể sáng tạo, bảo tồn, trao truyền các giá trị văn hóa; nâng cao khả năng tiếp cận, sáng tạo, thụ hưởng văn hóa của Nhân dân; khơi dậy lòng yêu nước, tự hào dân tộc, trách nhiệm công dân và khát vọng cống hiến vì sự phồn vinh, hạnh phúc của đất nước trong kỷ nguyên mới. Tôn vinh các giá trị di sản văn hóa truyền thống tốt đẹp; phát huy nét đặc sắc của văn hóa vật thể, phi vật thể và các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, làng nghề, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa gắn với phát triển kinh tế, tạo sinh kế bền vững cho người dân, thúc đẩy phát triển du lịch và nâng tầm định vị thương hiệu Quảng Ngãi. Tạo sự thống nhất trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện đồng bộ từ tỉnh đến cơ sở; làm căn cứ để sở ban ngành xây dựng kế hoạch, phân công nhiệm vụ và bố trí nguồn lực triển khai, thực hiện.
Nhiệm vụ và hoạt động trọng tâm
Công tác thông tin, truyền thông và sản xuất sản phẩm văn hóa số. Xây dựng hệ thống sản phẩm truyền thông về “Ngày Văn hóa Việt Nam” với nội dung, hình thức phong phú, phù hợp đặc thù văn hóa và điều kiện thực tiễn của từng cơ quan đơn vị, địa phương.Tập trung sản xuất, phát sóng các chương trình, chuyên mục, thông điệp phát thanh - truyền hình, phim tài liệu, phóng sự chuyên sâu và các sản phẩm văn hóa số, trong đó chú trọng khai thác các nội dung về di sản văn hóa dân tộc, các sản phẩm văn hóa đặc trưng của tỉnh; khai thác hiệu quả mạng xã hội và phát huy vai trò của người nổi tiếng, người có ảnh hưởng, uy tín trong cộng đồng nhằm lan tỏa sâu, rộng lịch sử văn hóa dân tộc, hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới. Từng bước xây dựng, vận hành nền tảng văn hóa số trên địa bàn tỉnh; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tại các thiết chế văn hóa như: bảo tàng, thư viện, nhà hát, trung tâm triển lãm, trung tâm văn hóa... nhằm mở rộng khả năng tiếp cận và thu hẹp khoảng cách thụ hưởng văn hóa của Nhân dân giữa các vùng miền, địa phương. Tăng cường tổ chức các hoạt động tuyên truyền, cổ động trực quan. Triển khai các chủ đề, thông điệp truyền thông, hướng dẫn sử dụng bộ nhận diện, pano, áp phích theo mẫu của trung ương. Tổ chức trang trí, treo biểu ngữ tại trụ sở cơ quan nhà nước, trường học, khu dân cư và các không gian công cộng. Tổ chức các chiến dịch truyền thông đa nền tảng về “Ngày Văn hóa Việt Nam” từng bước tạo dấu ấn rõ nét về giá trị văn hóa tỉnh Quảng Ngãi trên không gian mạng. Chú trọng các giải pháp bảo đảm an ninh văn hóa trên môi trường mạng và văn hóa số; thực thi nghiêm quyền tác giả.
Tổ chức các các sự kiện, hoạt động hưởng ứng “Ngày Văn hóa Việt Nam” (24/11). Tổ chức triển lãm, trưng bày tư liệu, hình ảnh và các thành tựu tiêu biểu trong sự nghiệp phát triển văn hóa, xây dựng công nghiệp văn hóa và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam nói chung và của tỉnh Quảng Ngãi nói riêng. Triển khai chuỗi sự kiện văn hóa, nghệ thuật, thể thao quy mô lớn. Chú trọng kết hợp hài hòa giữa truyền thống và đương đại, khuyến khích ứng dụng công nghệ trình diễn hiện đại nhằm tạo sức lan tỏa sâu rộng, thu hút đông đảo nghệ sĩ, nghệ nhân và Nhân dân tham gia. Tổ chức đặt hàng, tạo điều kiện và không gian thuận lợi để đội ngũ trí thức, nhà văn hóa, văn nghệ sỹ, nghệ nhân phát huy tối đa tiềm năng sáng tạo; tổ chức các chiến dịch sáng tác chuyên đề, triển lãm chuyên sâu và chuỗi trình diễn nghệ thuật trọng điểm kết hợp giữa truyền thống và đương đại quy mô cấp tỉnh và khu vực. Chủ động đăng ký tham gia các sự kiện văn hóa đối ngoại tại các trung tâm văn hóa Việt Nam ở nước ngoài; các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để lan tỏa giá trị “Ngày Văn hóa của tỉnh Quảng ngãi” đến cộng đồng quốc tế. Phát triển các tuyến du lịch trải nghiệm tại không gian di sản, làng nghề và cộng đồng tại chỗ; phục dựng và phát huy các lễ hội truyền thống phù hợp với thời điểm và từng cộng đồng nhằm bảo tồn có căn bản và hiệu quả các giá trị văn hóa truyền thống. Gắn kết việc tổ chức Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc (18/11), Ngày Di sản văn hóa Việt Nam (23/11) với Ngày Văn hóa Việt Nam (24/11) tại khu dân cư bảo đảm thiết thực, lấy người dân làm chủ thể. Duy trì các hội thi, hội diễn, liên hoan quần chúng thường niên (hát dân ca, truyền dạy các loại hình nghệ thuật truyền thống, truyền dạy các nghề thủ công mỹ nghệ văn nghệ quần chúng, ....) tại khu dân cư, các xã phường đặc khu. Tăng cường giao lưu văn hóa giữa các dân tộc, tôn giáo. Tổ chức thăm hỏi, tri ân, tôn vinh nghệ nhân nhân dân, nghệ nhân ưu tú, văn nghệ sĩ, trí thức và cán bộ văn hóa có nhiều đóng góp.
Tổ chức các giải thi đấu, biểu diễn thể thao quần chúng nhằm bảo tồn và phát triển các môn thể thao dân tộc (Võ cổ truyền, Kéo co, Đẩy gậy, Bắn nỏ, đua thuyền truyền thống...) Tăng cường các hoạt động tuyên truyền lưu động phục vụ Nhân dân tại cơ sở về thực hiện nếp sống văn minh, hệ thống giá trị chuẩn mực, văn hóa sống xanh gắn với các giá trị văn hóa truyền thống; phát triển mô hình thư viện cộng đồng tại các khu dâm cư, tổ chức thư viện lưu động, luân chuyển sách, báo và các hoạt động khuyến đọc tại cơ sở.
Thực hiện nghiêm quy định nghỉ làm việc hưởng nguyên lương vào “Ngày Văn hóa Việt Nam” (24/11), chính sách mở cửa miễn phí hoặc giảm phí tham quan tại các bảo tàng, di tích lịch sử - văn hóa, cơ sở văn hóa, thể thao công lập do tỉnh quản lý, vận động, khuyến khích các doanh nghiệp lữ hành, cơ sở lưu trú, khu du lịch, điểm vui chơi giải trí tư nhân trên địa bàn tham gia hưởng ứng bằng các chương trình khuyến mãi, giảm giá dịch vụ, kích cầu du lịch văn hóa trải nghiệm.
Xây dựng môi trường văn hóa cơ sở gắn với bảo tồn di sản văn hóa và xây dựng đời sống văn hóa cộng đồng. Đầu tư, nâng cao hiệu quả hoạt động của thiết chế văn hóa cơ sở; xây dựng không gian sinh hoạt văn hóa tại cộng đồng. Tích hợp nội dung xây dựng cộng đồng văn hóa cơ sở giàu bản sắc, sáng – xanh – sạch – đẹp lấy khu dân cư là hạt nhân của môi trường văn hóa, người dân làm chủ thể và trung tâm trong xây dựng môi trường văn hóa cơ sở và đời sống văn hóa cộng đồng. Phát triển mạnh mẽ văn hóa đọc theo hướng lấy người đọc làm trung tâm; nhân rộng các mô hình không gian đọc, thư viện mở, thư viện cộng đồng ở khu dân cư gắn với việc học tập sáng tạo và thông minh gắn với các sinh hoạt cộng đồng. Đẩy mạnh phong trào toàn dân đọc sách nhằm hình thành thói quen và kỹ năng đọc bền vững cho người dân. Đổi mới phương thức hoạt động của các thiết chế bảo tàng, thư viện, trung tâm văn hóa nghệ thuật theo hướng tăng cường các dịch vụ phục vụ nâng cao đời sống tinh thần Nhân dân. Các hoạt động đổi mới theo hướng hiện đại, tích hợp công nghệ số (bảo tàng số, thư viện số, trải nghiệm thực tế ảo VR/AR, thuyết minh tự động qua mã QR); Xây dựng và vận hành hệ thống truyền thanh ứng dụng công nghệ cao tại các thôn, làng, tổ dân phố. Tổ chức các chương trình, hoạt động chuyên đề giới thiệu di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của các cộng đồng trong đó chú trọng đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, trang phục, trò chơi dân gian, ẩm thực và giới thiệu tinh hoa thủ công mỹ nghệ. Xây dựng và nhân rộng các mô hình bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể, phi vật thể và văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc gắn với phát triển du lịch. Xác lập vai trò chủ thể trực tiếp của cộng động trong bảo tồn di sản và phát triển du lịch bền vững nhằm tạo sinh kế ổn định, phù hợp với bản sắc và phong tục tập quán.
Tổ chức các diễn đàn, hội nghị, hội thảo nghiên cứu khoa học và giáo dục văn hóa. Tổ chức Hội nghị Văn hóa toàn tỉnh định kỳ 05 năm một lần (năm 2027 là năm tổ chức lần thứ Nhất) nhằm đánh giá việc triển khai đường lối, chủ trương, các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng về văn hóa; kết quả xây dựng văn hóa, con người Quảng Ngãi; những giải pháp xây dựng và phát triển văn hóa đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới trên địa bàn tỉnh. Tổ chức hoặc tham gia các diễn đàn, hội thảo khoa học; các chương trình nghiên cứu về phát triển văn hóa, các hệ giá trị con người Quảng Ngãi trong bối cảnh hội nhập.
Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng khoa học trên lĩnh vực văn hóa nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa trong phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng ở địa phương. Rà soát, hướng dẫn tích hợp, lồng ghép phù hợp nội dung giáo dục nghệ thuật truyền thống, di sản văn hóa và các hệ giá trị, chuẩn mực con người Việt Nam vào chương trình, tài liệu giáo dục phù hợp với từng cấp học, trình độ đào tạo. Tổ chức các hoạt động ngoại khóa, mô hình “hành trình di sản” giới thiệu di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, ẩm thực, thủ công mỹ nghệ, trò chơi dân gian… trong các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh, đưa học sinh, sinh viên đến tham quan các bảo tàng, địa chỉ đỏ lịch sử và nhà trưng bày; tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống, văn hóa ứng xử và kỹ năng tham gia môi trường số an toàn cho học sinh, sinh viên.
Quảng bá văn hóa Quảng Ngãi trên trường quốc tế, phát triển công nghiệp văn hóa. Thường xuyên quảng bá hình ảnh đất và người Quảng Ngãi, các địa danh, sản phẩm OCOP trong các chương trình đối ngoại, xúc tiến đầu tư, thương mại của địa phương. Tham gia hoặc đăng cai tổ chức các hoạt động văn hóa mang tầm quốc tế tại tỉnh Quảng Ngãi hoặc tại các quốc gia là đối tác chiến lược toàn diện. Triển khai dịch thuật, xuất bản các ấn phẩm văn hóa, du lịch đa ngôn ngữ giới thiệu trên các nền toàn cầu. Rà soát, lựa chọn phát triển các ngành công nghiệp văn hóa thế mạnh của tỉnh như du lịch văn hóa, nghề thủ công truyền thống, văn hóa ẩm thực, nghệ thuật biểu diễn, kinh tế di sản; hình thành các thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa trong các lĩnh vực du lịch văn hóa gắn với kinh tế di sản.
Khai thác hiệu quả tài nguyên văn hóa đặc trưng: Di sản văn hóa Sa Huỳnh, không gian văn hóa cồng chiêng, bài chòi, biển đảo Lý Sơn, Khu du lịch sinh thái Măng Đen, cột mốc ba biên, các di tích lịch sử cách mạng... gắn với phát triển du lịch bền vững và tạo sinh kế bền vững của cộng đồng. Phát triển nội dung số và sản phẩm truyền thông đa ngôn ngữ; tăng cường kết nối với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, địa phương, tổ chức, đối tác quốc tế để giới thiệu văn hóa Quảng Ngãi. Phát triển các sản phẩm thủ công mỹ nghệ mang đặc trưng văn hóa Quảng Ngãi thành quà tặng ngoại giao, sản phẩm trưng bày tại các sự kiện quốc tế.
Đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên lĩnh vực văn hóa. Lan tỏa hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam; xây dựng môi trường văn hóa nhân văn, lành mạnh, văn minh trong gia đình, nhà trường, cơ quan, doanh nghiệp, cộng đồng và trên không gian mạng. Chủ động, kịp thời ngăn chặn, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, lệch lạc, các yếu tố ngoại lai phản cảm trong lĩnh vực văn hóa, tư tưởng. Tăng cường tính dự báo, đánh giá tác động, ảnh hưởng của các hoạt động truyền thông, chủ động có các phương án để kịp thời xử lý khủng hoảng truyền thông phát sinh trên địa bàn tỉnh.
Công tác thi đua, khen thưởng, kiểm tra và đánh giá. Phát hiện, biểu dương, khen thưởng và nhân rộng gương người tốt, việc tốt, mô hình “Dân vận khéo”, thiết chế hoạt động hiệu quả, sáng kiến chuyển đổi số, cộng đồng bảo vệ di sản và tập thể, cá nhân có đóng góp tiêu biểu. Tổ chức kiểm tra, đôn đốc thường xuyên; kịp thời tháo gỡ khó khăn, xử lý hoặc kiến nghị xử lý hạn chế, bất cập. Việc đánh giá phải gắn với sản phẩm đầu ra, mức độ tham gia của người dân, khả năng tiếp cận, tương tác, phản hồi và tác động xã hội.

